VỤ KIỆNTRUNG TÂM WILLIAM JOINER
THUỘC TRƯỜNG ĐẠI HỌC MASACHUSETTS BOSTON
Nguyễn Hữu Luyện
Lời giới thiệu của Ban Biên
Soạn
Mùa thu 1999, UMass Boston nhận số
tiền 250 ngàn Mỹ Kim của Rockefeller Foundation để
mở chương tŕnh nghiên cứu về cộng
đồng người Việt [Vietnamese diaspora]. Chương
tŕnh này mang tên “(Re)Constructing Identity and Place in the Vietnamese
Diaspora”. Chính Đại
Học Massachusetts Boston dich ra Việt ngữ là: “ Tái Xây
Dựng Diện Mạo và Quê Hương của
Người Việt ở Nước Ngoài”.
Trong vụ kiện William Joiner Center
thuộc University of Massachusetts Boston (WJC/UMB), khi làm deposition,
đây là một thủ tục, luật pháp cho phép bên nguyên
đơn lấy cung bên bị cáo, và ngược
lại. Luật Sư James P.
Keane [Đại diện nguyên đơn] hỏi Tiến Sĩ
Kevin Bowen, Giám Đốc WJC/UMB:
* “Mr. Keane: Correct me
if I’m wrong. Isn’t the diaspora those Vietnamese after 1975 who were basically
exiled or left Vietnam?
Luật Sư Keane: Vui
ḷng sửa lại nếu tôi sai. Có phải diaspora căn
bản là những người Việt Nam lưu vong
hoặc đi khỏi Việt Nam sau 1975?
* Dr. Kevin Bowen: We
defined it as ’75, after ’75
Tiến Sĩ Kevin Bowen: Chúng tôi
định nghĩa là [19] ’75 và sau [19] ’75
[Dr. Kevin Bowen, Director of
WJC/UMass Boston’s deposition, pages 107-109]
Như vậy mục đích của chương tŕnh này là nghiên cúu về người Việt Nam tỵ nạn Cộng Sản.
Kư ức về chiến tranh
Việt Nam là một chấn thương nội tâm và
tự thân cuộc chiến tranh này là một vết hằn
xâu đậm trong tinh thần tự trọng và tự hào
của người Mỹ. Do đó, giới trí thức
Mỹ nh́n vào di sản của cuộc chiến tranh
Việt Nam với những cái nh́n khác nhau, thậm chí trái
ngược nhau. Môt số tỏ ra khâm phục chế
độ Cộng Sản tại Việt Nam - người
chiến thắng cuộc “Chiến tranh Việt-Mỹ[1] [theVietnam-American War ]”, đây là
cách nói của những người Mỹ có khuynh
hướng phản chiến, những người Mỹ
khác th́ cố gắng t́m hiểu nguyên nhân thất bại
của cuộc chiến tranh Việt Nam [the Vietnam War] --
một thảm họa lịch sử của nước
Mỹ.
Thuộc nhóm người Mỹ
khâm phục Cộng Sản Việt Nam, WJC/UMB dựa trên
quan điểm “chiến tranh Việt-Mỹ” để
thực hiện chương tŕnh nghiên cứu về
một cộng đồng được dư luận thế
giới gọi là người Việt tỵ nạn
Cộng Sản (Vietnamese refugees from Communism).[2]
Chính v́ cái danh xưng tỵ nạn Cộng Sản mà
WJC/UMB phải viết lại cái căn cước đích
thực này để tạo ra một cái nh́n của
lịch phù hợp với quan điểm “chiến tranh
Việt-Mỹ” của họ. Xoá bỏ h́nh ảnh người
Việt tỵ nạn Cộng Sản có nghĩa là xoá
bỏ tội ác của chế độ Cộng Sản
tại Việt Nam. Việc làm
của WJC/UMB với sự tham dự của một số
học giả của chế độ Cộng Sản
Việt Nam mang cùng một mục đích với việc Hà
Nội dùng áp lực ngoại giao để đ̣i hỏi
Indonesia và Malaysia phải phá huỷ các đài tưởng
niệm “Thuyền Nhân Việt Nam”, đă chết trên thê
thảm trên đường đi t́m tự do, mặc dàu
các đài tưởng niệm này chỉ được
dựng lên tại các trại tỵ nạn trước
đây, trên những ḥn đảo hoang vắng để
ghi ơn chinh phủ và nhân dân hai nước đả
rộng ḷng cưu mang những thuyền nhân c̣n sống sót[3].
Nước Mỹ và thế
giới gọi cuộc chiến tranh ư thức hệ
tại Việt Nam là Chiến Tranh Việt Nam (The Vietnam War);
nhưng những người Mỹ có khuynh hướng
phản chiến th́ gọi là cuộc chiến tranh
Việt-Mỹ (the Vietnam-American War) nhằm thay đổi
sự thật lịch sử, dành chính nghiă cho chế
độ Cộng Sản Việt Nam v́ đă tiến hành
cuộc chiến tranh “chống Mỹ cứu nước”
chứ không phải là cuộc chiến tranh bành
trướng chủ nghĩa Cộng sản tại vùng
đông nam Châu Á trong thời
kỳ chiến tranh lạnh (the Cold War) của hậu bán
thế kỷ 20. Từ quan điểm lệch lạc
đó, WJC/UMB đă bước qua luật pháp, những
nguyên tắc hành xử đại học (code of academic
conduct), cũng như những quy luật căn bản
của ngành nghiên cứu như đạo đức (code
of ethics in research) liêm chính (code of research integrity) phương
pháp học (research methodology) vân vân để đạt
mục đích chính trị của họ. Bài viết này chỉ
đề cập tới những ǵ thuộc về
luật pháp, và những ǵ thuộc về nguyên tắc hàn
lâm (code of academic conduct) mà thôi.
CHƯƠNG TR̀NH NGHIÊN CỨU
VỀ CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT TỴ NẠN
CỘNG SẢN
[VIETNAMESE DIASPORA]
Mùa thu 1999,
UMass Boston nhận số tiền 250 ngàn Mỹ Kim của
Rockefeller Foundation[4] để mở
chương tŕnh nghiên cứu về cộng đồng
người Việt tỵ nạn Cộng Sản.
Chương tŕnh này mang tên “(Re)Constructing Identity and Place in the
Vietnamese Diaspora”. Mục
đích của chương tŕnh này đă được ghi
rơ trong kế hoạch nghiên cứu:
trong
lịch sử văn hoá Việt Nam [7]”
Trong
đoạn khác ông Hoàng Ngọc Hiến nhấn mạnh
hơn nữa:
“Một nhiệm
vụ cụ thể quan trọng của đề tài:
Gắn bó đề tài với nhiệm vụ ḥa gỉai và
tư tưởng ‘đồng nguyên’ văn hóa ở Hồ
Chí Minh... th́ đây là một bài học quan trọng
đối với sự nghiên cứu và thảo luận
những đề tài của Đề Án [8]”.
Tiến
Sĩ Kevin J. Bowen, hoàn toàn đồng quan điểm
với ông Hoàng Ngọc Hiến về tinh thần hoà
hợp và hoà giải vốn có trong tâm tư người
Việt Nam và Tiến Sĩ Kevin J. Bowen cho rằng cả
đảng Cộng Sản Việt Nam lẫn cộng
đồng người Việt tỵ nạn Cộng
Sản đều lấy truyền thống văn học
và đạo lư thời Lư - Trần làm căn cước
(identity) của ḿnh. Dưới đây là đoạn trích
trong hồ sơ khai cung có tuyên thệ giữa Luật
Sư James P. Keane đại diện nguyên đơn và
Tiến Sĩ Kevin J. Bowen, Giám Đốc WJC/UMB
từ thế kỷ thứ 10 tới 14 [ông Nguyễn
Huệ Chi] vào chương tŕnh để làm ǵ?
* Tiến Sĩ Kevin J.
Bowen: “Vâng, đây là thời kỳ quan trọng nhất trong
lịch sử Việt Nam, và cũng là
thời kỳ mà các học giả đang bàn luận
rất nhiều về ư nghiă, về những ǵ đă
xẩy ra và ảnh hưởng của thời kỳ đó
đối với căn cước của người
Việt Nam. Có một tác phẩm quan trọng của một
học giả Mỹ nh́n vào vấn đề làm thế nào
mà cả người tỵ nạn Cộng Sản lẫn đảng Cộng
Sản cùng dùng thời kỳ Lư Trần để chính
thống hóa ư nghiă lịch sử của ḿnh . . . Sự hoà đồng và tiến
hóa của đạo Phật, đạo Lăo, đạo
Khổng chính là cái căn cước (identity) của
người Việt Nam và tất cả đều
được truy nguyên về thời kỳ đó [9]”
Kế hoạch thực hiện nghiên
cứu của WJC/UMB là một mạng lưới đan
kết bằng những nghịch lư và hoàn toàn không trung
thực. Khuôn khổ bài
viết này chỉ có thể đưa ra một vài
điển h́nh mà thôi. Thí dụ, UMass Boston công bố
một kế hoạch mà họ không bao giờ thực
hiện.
chữ Việt sẽ được
phổ biến rộng răi tới các cộng đồng
địa phương và
cộng
đồng toàn quốc của người Việt Nam và
các cơ quan báo chí,
truyền thanh, truyền h́nh mạng lưới toàn
cầu bằng Việt ngữ
. . . [11]”
“...để
đạt mục đích này, chúng tôi chủ trương
nối liền chương tŕnh mà chúng tôi đang dành cho các
nhà văn và học giả văng lai từ Việt Nam tới
với chương tŕnh do Rockefeller Foundation bảo trợ
qua suốt 3 năm, càng nhiều càng tốt và t́m kiếm
phương tiện thích hợp để phát hành và
phổ biến các tài liệu của các học giả này
trên báo chí và các hệ thống điện tử trong
cộng đồng người Việt tỵ nạn
Cộng Sản.[12]”.
Mục
đích nói trên đă khiến cho WJC/UMB vướng mắc
vào những sai phạm rất sơ đẳng. Theo
quy luật đại học, khi xét thấy có dấu
hiệu “mâu thuẫn quyền lợi” [conflict of interest]
giữa người viết nghiên cứu với chủ
đề nghiên cứu th́ giới chức có trách nhiệm
thực hiện chương tŕnh nghiên cứu phải thay
ngay nghiên cứu viên để bảo đảm giá trị
vô tư của chương tŕnh. Nhưng thực tế
chứng minh rằng bản thân những giới chức có
thẩm quyền của WJC/UMB đă là bằng chứng
của “conflict of interest” rồi.
Thí dụ trong bài
tiểu luận nhan đề “Chiến Tranh Việt Nam và
Việt Nam (The Vietnam War and Vietnam)” viết bằng Anh
ngữ, có đoạn ông Nguyễn Bá Chung, Giám Đốc
chương tŕnh viết:
“ Tôi tin rằng Hoa
Kỳ có những mục đích cao cả ở Việt Nam
- tụ do và dân chủ. Nhung v́ Hoa kỳ đă liên kết
với một nhóm người Việt mang đầy
dấu vết thực dân, và
hầu hết họ đă phản bội lịch sử của
dân tộc Việt Nam . . . Hồ Chí Minh có tất cả
chính nghiă -- độc lập, thống nhất và công lư xă
hội – nhưng v́ không có quốc gia phương Tây nào
ủng hộ việc giải phóng thuộc địa, ông
Hồ và những nhà cách mạng của ông đă phải
liên kết với chủ nghiă Cộng Sản [13]”
Bài
viết này không bàn tới lập trường chính trị
của ông Nguyễn Bá Chung đúng hay sai, mà chỉ bàn
về khía cạnh phương pháp học trong nghiên cứu
(research methodology) về nhân văn
mà thôi. Giám Đốc chương tŕnh nghiên cứu
mang nặng tư tưởng thù nghịch đối
với chủ đề nghiên cứu và qúa tôn sùng bên thù
nghịch vói chủ đề nghiên cứu, như vậy
làm sao có thể nói tới tính vô tư và khách quan của công
tŕnh nghiên cứu này?
Hơn
thế nữa, Tiến Sĩ Kevin J. Bowen, thẩm quyền
cao nhất của chương tŕnh cũng là hiện thân
của “conflict of interest”, đoạn trích dưới
đây là một bằng chứng điển h́nh.
“Ngay từ tháng Tám năm 1999, Hôi Nhà Văn Việt Nam
[tại Việt Nam] đă xuất bản tạp chí văn
chương bằng Anh ngữ, chủ yếu là những
tác phẩm của Hồ Chí Minh và nhửng nhà văn
nổi tiếng của Việt Nam [Cộng Sản]. Hội nhà văn cũng cho
biết những dịch gỉa đă sẵn ḷng cộng
tác với tạp chí Văn Chương Việt Nam gồm
các nhà thơ Mỹ và nhà thơ Việt Nam đang sống
tại Mỹ ở Boston thuộc tiểu bang
Massachusetts, như Giáo Sư Kevin Bowen (Đại Học Tổng
Hợp Massachusetts), nhà thơ Buso Ioh, nhà thơ người
Việt Nguyễn Bá Chung . . . Đối tượng
độc giả chính là người nước ngoài và
đồng bào Việt Nam ở nước ngoài [14]”
WJC/UMB
đă biến cuộc ra đi vĩ đại
nhất, kinh hoàng nhất trong lịch sử đấu
tranh của nhân loại trở thành cuộc ra đi của
những kẻ “chạy trốn tổ quốc [15]” như Hoàng Khởi Phong,
một nghiên cứu viên của chương tŕnh này đă
nói trong cuốn sách “Nếu Đi Hết Biển” của Trần Văn
Thủy. Đây là lần đầu tiên WJC/UMB cho xuất bản một
phần của chương tŕnh nghiên cứu về
cộng đồng người Việt tỵ nạn
Cộng Sản. Cuốn sách này được chính thức
mang danh xưng “CHƯƠNG TR̀NH NGHIÊN CỨU
CỦA UNIVERSITY OF MASSACHUSETTS BOSTON”
và danh
xưng này được trang trọng in trên trang giấy
thứ nhất của cuốn sách. Tác giả Trần
Văn Thuỷ là nhà đạo diễn phim ảnh của
chế độ Cộng Sản tại Việt Nam, đă
từng vào B [chiến trường miền Nam]
trước 1975 để làm công tác tư tưởng. Ông Trần Văn Thuỷ được
tuyển chọn viết cho năm thứ ba của
chương tŕnh.
II.
PHẢN KHÁNG CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI
VIỆT
(VIETNAMESE DIASPORA)
1. Những thông tin về việc làm của WJC/UMass Boston được phổ biến trên mạng lưới toàn cầu [Internet] từ tháng 3/2000.
2. Từ tháng 3 tới tháng 8/2000 cộng đồng Việt Nam trên khắp thế giới gửi kháng thư ồ ạt về Rockefeller Foundation, Viện Trưởng Viện Đại Học Massachusetts Boston, và Giám Đốc WJC. Trong số kháng thư đó có nhiều người Mỹ. Yểm trợ cho phong trào phản kháng có cả giới đại học, các vị dân cử cấp tiểu bang và liên bang, và một số các vi dân cử từ các quốc gia khác đă nhân danh cử tri gốc Việt để can thiệp vào vấn đề này.
3. Ngày 25 tháng 8 năm 2000, phái đoàn
của cộng đồng Việt Nam tại
Massachusetts vào họp với
WJC để giải quyết vấn đề. Rất tiếc WJC có thái
độ quá ngạo mạn và ngoan cố nên buổi
họp không đem lại kết qủa nào hết.
4. Tối
mồng 1 tháng 10 năm 2000, nhân cuộc tranh luận [debate]
giữa hai ứng cử viên tổng thống Hoa Kỳ
George W. Bush và Al Gore tại đại học Massachusetts
Boston, Ban Chấp Hành Cộng Đồng Việt Nam tại
Massachusetts đă tổ chức cuộc biểu t́nh với
hơn 300 đồng bào tham dự, ngay tại cổng UMass
Boston. Báo chí, radio và truyền h́nh Mỹ dă tới phỏng
vấn nhiều thành viên trong đoàn biểu t́nh. Đài
truyền h́nh FOX NEWS đả loan tin
này. Đây chỉ là những phản ứng chính yếu trong
giai đoạn phản kháng.
Những biện pháp khác như tẩy chay, phê phán trên
NET, trên báo chí hoặc hội thảo tại khắp nơi
để tố giác âm mưu của UMass Boston rất
nhiều, không thể kể hết được. Dưới đây là một h́nh
ảnh điển h́nh cho phong trào phản kháng tại
nhiều quốc gia. Buổi
hội thảo tại trường trung học Cleverland
trong vùng Dorchester gồm có các phái đoàn từ 18 tiểu
bang và các đại biểu từ Âu Châu về để
tố giác việc làm đen tối của WJC/UMB , đă
được báo The Boston Globe, tờ báo lớn

nhất của tiểu bang Massachusetts
loan tin trong hai ngày 27 và 28 tháng 8 năm 2001.
III. ĐƯA VỤ WJC/UMB RA TRƯỚC
CÔNG LƯ:
MỘT LỰA CHỌN BẤT
ĐẮC DĨ
Nhận thấy mọi nỗ lực
nhằm điều chỉnh thiên lệch của WJC/UMB trong
hơn một năm trời hoàn toàn vô hiệu qủa.
Mặc dàu cộng đồng người Việt không
muốn, nhưng phải chọn giải pháp duy nhất
để giải quyết vấn đề WJC/UMB là
đưa họ ra trước công lư. V́ WJC/UMB phải tập trung
cố gắng vào việc chọn lưạ trước
các nghiên cứu viên là người của họ nhằm
thực hiện mục đích chính trị, cho nên khi
tuyển nghiên cứu viên cho năm thứ nhất, WJC/UMB
đă vướng mắc vào luật kỳ thị về ư
thức hệ, quốc tịch gốc, giáo dục,
tuổi tác và việc làm. Cộng Đồng Người
Việt tỵ nạn Cộng Sản đă thực
hiện phong trào gây quỹ pháp lư tại nhiều quốc
gia để góp tiền cho nhóm nguyên đơn khởi
tố WJC/UMB trước Toà Superior tại Quận Suffolk,
Boston-Massachusetts là điạ phương của UMB.
Vụ kiện này nhằm vào hai mục đích:
·
Vô hiệu hoá chương tŕnh nghiên cứu
hoàn toàn không trung thực của WJC/UMB.
·
Bảo vệ căn cước (identity) và
vị trí lịch sử của người Việt tỵ
nạn Cộng Sản
1. Ngành đại học Hoa Kỳ
đă thiết lập cơ cấu tổ chức nhằm
chế tài những vi phạm đạo đức của các cơ quan nghiên cứu,
đó là Office of Research Integrity.
Trái với những hiểu biết thông
thường, cho rằng các trường đại
học tại Hoa Kỳ có quyền tự trị đại
học [academic freedom] nên
họ muốn làm ǵ th́ làm.
Thực tế th́ các đại học tại Hoa
Kỳ phải chịu sự chi phối của luật
pháp và những nguyên tắc hàn lâm (Code of academic conduct)
một cách rất khắt khe. Các chương tŕnh nghiên
cứu phải tuân thủ những quy luật nghiêm
khắc trong “code of ethics in research”.
Vi phạm vào luật lệ này có thể dẫn
đến việc bị hủy bỏ toàn bộ
chương tŕnh hoặc các học giả vi phạm
luật lệ có thể bị cấm tham dự các
chương tŕnh nghiên cứu trong nhiều năm. Một thí dụ điển h́nh
là gần đây nhất, ngày 23-7-2004, tiến sĩ Nancy
J.Strout thuộc đại
học Maine, đă bị Office of Research Integrity áp dụng
biện pháp chế tài, bà bị loại không
được tham dự các cuộc nghiên cứu trong
thời hạn ba năm (Federal Register: August 9, 2004).
Cộng Đồng người
Việt tỵ nạn Cộng Sản là chủ đề
nghiên cứu của WJC/UMB. Khi
cơ quan này bị Cộng Đồng đưa ra
trước công lư v́ vi phạm luật kỳ thị chống
lại cộng đồng có nghiă là kỳ thị chống
lại chủ đề nghiên cứu của họ và khi có
bản án xác định hành
động kỳ thị th́ chương tŕnh nghiên cứu
này cho dẫu có thực hiện ở quy mô lớn lao
chưa từng thấy, cũng trở thành mớ giấy
vô dụng nằm trong các kho tàng văn học sử. Không một học giả nào,
không một nhà nghiên cứu nào tham khảo một tài
liệu đă được luật pháp xác nhận là
kỳ thị chống lại chính cái chủ đề
nghiên cứu của họ.
Đó là mục đích thứ nhất, nhằm vô
hiệu hoá chương tŕnh nghiên cứu này.
2. Vụ kiện này ghi
lại tiếng nói của cộng đồng người
Việt tỵ nạn Cộng Sản chống lại thái
độ kỳ thị về ư thức hệ của
WJC/UMB nhằm duy tŕ vị trí lịch sử của ba
triệu người Việt Nam đă phải rời
bỏ quê hương sau
biến cố 1975 là những người tỵ nạn
Cộng Sản. Vấn
đề người Việt tỵ nạn Cộng
Sản là một trang sử sôi động của thế
giới. Liên Hiệp Quốc
và các quốc gia trong thế giới tư do đă cứu
trợ người Việt tỵ nạn Cộng Sản
trong thập kỷ 70s; 80s và 90s: đó một sự
kiện lịch sử của thế giới. Vụ
kiện này chỉ nhằm mục đích duy tŕ sự
thật lịch sử là ba triệu người Việt
Nam bỏ nước ra đi sau biến cố 1975 là ba
triệu người tỵ nạn Cộng Sản.
DIỄN
TIẾN VỤ KIỆN
1. Ngày October 26, 2000 đưa
nội vụ vào Hội Đồng Bài Trừ Kỳ
Thị của Tiểu Bang Massachusetts.
2. Ngày October 3, năm 2001 nộp
hồ sơ khởi tố lên Ṭa Superior Court tại Suffolk
County [Boston] với tư cách
“class action” [kiện tập thể]. Vụ án số: 01-4507E
3. Ṭa án chỉ định ngày
tiền nghị án là November 19, 2002.
Thông lệ th́ ngày xét xử sẽ là 4 hoặc 6
tuần lề sau đó (Tài
Liệu Tham Khảo số 5)
4.
Tới ngày Novembr 19, 2002 LS Keane báo tin phía bị cáo
đang t́m kiếm giải pháp đê giải quyết bên
ngoài Toà Án. (Tài Liệu Tham
Khảo số 6). V́ phiá nguyên
đơn từ chối nên bị cáo xin Toà cho hoăn tới
ngày December 16, 2002
5.
Tới ngày December 16, 2003
bị cáo lại xin Ṭa hoăn tới
August 1, 2003.
6. Ngày
May 29, 2003 Luật Sư Keane viết thư báo tin Ṭa Án
bác bỏ class-action, các nguyên đơn khác bị gạt ra
ng̣ai vụ kiện, chỉ c̣n một ḿnh Nguyễn Hữu
Luyện ra ṭa với tư cách cá nhân. (Tài Liệu Tham khảo số 10)
7. Ngày October 29, 2003 bàn giao hồ
sơ vụ kiện WJC giữa luật sư mới và
luật sư cũ.
8. Ngày October 30, 2003, hai Luật Sư
mới là James C. Duff và Bradley S. Clanton thuộc Tổ Hợp
LS Baker Donelson Bearman, Caldwell & Berkowitz , văn pḥng chính
tại Washington D.C. là một trong 200 tổ hợp luật
sư lớn nhất nước My, đă tới Boston
để dự phiên hearing tại Ṭa Superior Court
[Suffolk-Boston] để đưa tất cả hồ
sơ của 9 nguyên đơn cư trú bên ngoài tiểu bang
Massachusetts trở lại vụ án, với tư cách là 9 hồ sơ cá nhân, v́ class action
đă bị bác bỏ.
9. Ngày January 9, 2004 Luật Sư
mới đă nộp cáo trạng mới (Second Amended
Complaint).
10. Phiên hearing tại Suffolk Superior
Court ngày April 14, 2004 nhằm
giải quyết những vấn đề :
*
Đơn của bị cáo xin bác bỏ đơn
khởi tố mới của nguyên đơn
(motion toDismiss The Second Amended Complaint)
*
Đơn của bị cáo xin miễn giao nộp tài
liệu (Protective Order)
và đơn xin đ́nh hoăn việc điều tra.
(Motion to Stay
Discovery)
*
Nguyên đơn xin Ṭa Án có biện pháp cưỡng
chế và trừng
phạt (sanctions) đối với bị cáo v́ đă
dùng mọi thủ đoạn để
kéo dài vụ kiện và lẩn tránh trách nhiệm.
11. Ngày August 27, 2004, bà Chánh Án Janet
Sanders đă ban hành quyết
định bác bỏ vụ khởi tố Trung Tâm
William Joiner thuộc trường Đại Học Massachusetts Boston. (Tài Liệu Tham
Khảo số 3)
12. Trong thư
gửi Cộng Đồng người Mỹ gốc
Việt của Tổ Hợp Luật Sư Baker Donelson, có
đoạn viết: “Ngày August 27, 2004, Chánh Án Janet Sanders đă chấp
thuận Thỉnh Nguyện Thư của bị cáo xin bác
bỏ Văn Bản Khởi Tố được tu chính
lần thứ hai của Nguyên
Đơn. Chúng tôi tin rằng
phán quyết của Chánh Án không phù hợp với luật
pháp của tiểu bang Massachusetts, như đă phác thảo để
phản đối Thỉnh
Nguyện Thư của trường đại học. Theo đó, chúng tôi phải kháng cáo
ngay phán quyết của Chánh Án
lên Ṭa Phúc Thẩm của tiểu bang Massachusetts.” (Tài
Liệu Tham Khảo số 11)
13. Ngày October 5, 2004, Tổ Hợp
luật Sư Baker Donelson đă nộp “Notice of Appeal” lên Ṭa
Phúc
Thẩm.
14. Ngày December 13, 2004,
Toà Phúc Thẩm [Court of Appeal] đă gửi Notice of Docket Entry
và cho nguyên đơn nộp Brief vào ngày January 18, 2005.
15. Ngày March 17,
2005, 3 Luật Sư
đại diện nhóm nguyên đơn đă nộp Brief of
Appellants (Bác bỏ phán quyết của Toà Superior) lên Toà Phúc
Thẩm (Court of Appeal)
16. Ngày June 20, 2005
trường đại học đă nộp Brief for Appellee
xin Toà Phúc Thẩm xác nhận phán quyết của Toà Superior
17. Ba luật Sư:
Marlene J. Bidelman, James C. Duff va Bradley S. Clanton thuộc Tổ
Hợp Luật Sư Baker, Donelson, Bearman, Caldwell &
Berkowitz đă nộp Reply Brief
of Appellants (chứng minh sai lầm của Brief for Appellee
của đại học khi xin Toà xác nhận phán quyết
của bà Chánh Án Janet Sanders.)
Sau 3 lần nộp briefs của hai bên
nguyên và bị, thủ tục kết thúc ở đây
để đợi phiên “hearing” do 3 chánh án chủ toạ
để quyết định vụ kiện. Nếu bên nguyên đơn
thắng, Toà Phúc Thẩm sẽ chuyển hồ sơ
xuống Toà Superior để mở phiên xử. Nếu bên nguyên đơn thua th́
việc chống án lên Toà Tối Cao (Supreme Court) sẽ được thực
hiện ngay.
* *
TÀI
LIỆU DẪN CHỨNG
[1] University of Masachusetts Boston,
“Rockefeller Foundation Humanities Fellowship - UMass Boston Program Plan” MA
02125, 1999 p. 1
[2] Dương Thành Lợi “Boat People” Optimal World Publishers Boston Toronto, First Published 2000, p.743
[3] Bản tin Việt
ngữ và h́nh của đài phát thanh BBC trong 2 websites
dưới đây:
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/regionalnews/story/2005/06/050615_vietnammemorial.shtml
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/story/2005/06/050615_boatpeoplemonument.shtml
[4] Murray Hiebert/Boston “United States: The War That Won’t Go Away” Far Eastern Economic Review, November 20, 2000, Review Publishing Company Limited, Hong Kong
[5]
University of Massachusetts Boston, “A Conceptual Essay for the 1999
Rockefeller Foundation Humanities Fellowship.” MA 02125, 1999 p.1
[6] Marcella Bombardieri, Globe staff “Battle Lines Remain” The Boston Globe October 26, 2000 Boston, Massachusetts
[7] Suffolk Superior Court, the lawsuit against WJC/UMB, Docket No: CA 01-4507 E, Copies of documents supplied by the UMB “ Đề cương nghiên cứu của Hoàng Ngọc Hiến”
[9] Suffolk Superior Court, the
lawsuit against WJC/UMB, Docket No: CA 01-4507 E, Deposition of Dr. Kevin J. Bowen Volume II, p. 107
- 109
[10]
University of Massachusetts Boston, “A Conceptual Essay for the 1999 Rockefeller
Foundation Humanities Fellowship.”
MA 02125, 1999 p.4
[11] University of Masachusetts Boston,
“Rockefeller Foundation Humanities Fellowship - UMass Boston Program Plan” MA
02125, 1999 p.5
[12] University of Masachusetts Boston,
“Rockefeller Foundation Humanities Fellowship - UMass Boston Program Plan” MA
02125, 1999 p.6
[13] Nguyen
Ba Chung “The Vietnam War and Vietnam”, American Experience/Vietnam
Online/Reflections on War/ PBS http://www.pbs.org/wgbh/amex/vietnam/reflect/chung.html 9/10/2005
[14] VietBao Online 08/16/1999 “Cộng Sản Việt
Nam Ra Tạp Chí Ngoại Ngữ Về Văn Chương
Việt Nam” VNN – NET, 1999 Santa Ana, CA 92703